“Nói ít – làm nhiều – làm đến cùng”: Lời cam kết hành động trước nhân dân – Bài 1: Khâu tổ chức thực hiện còn yếu kém

Lượt xem:

Đọc bài viết

giả: HỒNG THẠNH – DUY THÀNH

Không phải ngẫu nhiên mà Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh phương châm “Nói ít – Làm nhiều – Làm đến cùng” như một chuẩn mực hành động của hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Đó chính là sự tự soi chiếu nghiêm khắc của Đảng trước những tồn tại, hạn chế được nhận diện trong thực tiễn thời gian qua, cùng một cam kết hành động trước nhân dân trên chặng đường hiện thực hóa mục tiêu, khát vọng của dân tộc.

Tại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) chỉ rõ: “Điểm yếu lớn nhất của chúng ta là nhiều chủ trương đúng nhưng tổ chức thực hiện chưa đạt yêu cầu”. Thực tế cho thấy, một trong những khâu yếu nhất, chậm nhất và gây lãng phí nhất là đưa chủ trương vào cuộc sống. Khi những dự án nghìn tỷ đắp chiếu, dòng vốn đầu tư công bị nghẽn lại…, đó không còn là vấn đề của năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện, mà là sự lỗi nhịp với vận hội quốc gia.

Những “vết sẹo” hạ tầng phơi bày thực tại ngổn ngang

Trong tư duy quản trị quốc gia hiện đại, đầu tư công không chỉ là việc chi tiêu ngân sách, mà là “vốn mồi” chiến lược để kích hoạt các nguồn lực xã hội, là đòn bẩy để hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, nhìn vào bức tranh thực tế những năm qua, một nghịch lý nhức nhối hiện hữu: Trong khi đất nước đang ở thời điểm vàng để bứt phá hạ tầng, thì hàng trăm nghìn tỷ đồng lại nằm im trong kho bạc. Đây không đơn thuần là sự chậm trễ về mặt giải ngân, mà là một sự lãng phí nguồn lực quốc gia, trực tiếp làm chậm nhịp bước tiến của đất nước.

Tại Hội nghị thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 do Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì ngày 24-4, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương nêu rõ tình hình phân bổ, giải ngân, trong đó vẫn còn 16 bộ, cơ quan có tỷ lệ giải ngân dưới 1%; một số đơn vị được giao vốn lớn nhưng giải ngân thấp, ảnh hưởng đến tiến độ chung.

Theo Bộ Tài chính, giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến hết ngày 30-4-2026 đạt 14,2% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương, giải ngân chậm là kết quả của nhiều yếu tố, tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu. Theo đó, chất lượng lập kế hoạch chưa cao, phân bổ vốn còn dàn trải. Một số dự án chưa hoàn thiện thủ tục nhưng vẫn được bố trí vốn. Công tác giải phóng mặt bằng chưa đồng đều, thiếu quyết liệt. Việc phối hợp giữa các cơ quan chưa chặt chẽ. Năng lực tổ chức thực hiện của một số chủ thể còn hạn chế. Một bộ phận cán bộ còn tâm lý e ngại, né tránh trách nhiệm…

Dư luận bày tỏ lo lắng khi có những bộ, ngành, địa phương – vốn là những đơn vị thụ hưởng nguồn lực lớn để phát triển hạ tầng chiến lược, lại có tỷ lệ giải ngân ở mức “báo động đỏ”, thậm chí có đơn vị giải ngân xấp xỉ 0% trong những tháng đầu năm. Sự trì trệ này tạo ra điểm nghẽn, làm suy giảm hiệu quả của các chính sách tài khóa và gây áp lực ngược lại cho nền kinh tế.

Bên cạnh những hạn chế trong công tác giải ngân vốn đầu tư công thì tình trạng không ít dự án chậm triển khai, dự án “treo” kéo dài đã tạo thành điểm nghẽn trong phát triển kinh tế – xã hội, không chỉ gây lãng phí lớn mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư, gây khó khăn cho đời sống nhân dân vùng dự án.

Những dự án chậm tiến độ có điểm chung là được xác định đúng vai trò chiến lược, hướng phát triển, nhưng lại “trượt nhịp” khi hiện thực hóa từ bước phê duyệt chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án. Điểm nghẽn lộ rõ ở năng lực tổ chức thực thi, nơi mọi giả định trên báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi đối diện với những va đập của thực tiễn.

Trong năm 2025, qua rà soát hàng nghìn dự án, Thanh tra Chính phủ đã chủ trì triển khai thanh tra chuyên đề đối với 491 dự án có khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, hiệu quả thấp, tiềm ẩn nguy cơ gây thất thoát, lãng phí.

Số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, tính đến cuối tháng 3-2025, cả nước có 4.489 dự án gặp khó khăn, vướng mắc; tổng diện tích đất bị kẹt lại lên tới gần 200.000 ha với tổng mức đầu tư khổng lồ là hơn 3,35 triệu tỷ đồng.

Phát biểu thảo luận ở tổ tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh, phải giải quyết dứt điểm hàng nghìn dự án đang tồn đọng, vướng mắc về đất đai, nguồn vốn. Với nguồn lực rất lớn đang tồn đọng ở các dự án, nếu khơi thông trở lại, đó chính là một trong những nguồn lực góp phần cho việc tăng trưởng.

Tại sao khi có tiền, có chủ trương và có sự kỳ vọng rất lớn từ nhân dân mà bộ máy thực thi vẫn tắc nghẽn? Thực tế công tác triển khai đã chỉ ra rằng, “vi-rút” trì trệ không chỉ nằm ở thiếu vốn hay kỹ thuật, mà nằm ở sự thiếu đồng bộ trong khâu tổ chức thực hiện, tâm lý “thủ thế” của một bộ phận cán bộ cùng với điểm nghẽn về tư duy và quy trình phối hợp. Có những dự án bị vây bủa bởi nhiều thủ tục chồng chéo, trong khi có đơn vị thực thi chỉ lo tròn vai trong phạm vi hẹp của mình mà thiếu đi sự hiệp đồng tác chiến vì mục tiêu chung quốc gia. Một hồ sơ dự án đầu tư công phải đi qua nhiều cửa, chỉ cần một mắt xích chậm lại hoặc yêu cầu giải trình thêm là toàn bộ dự án đứng bánh.

Những hạn chế, tốn tại, yếu kém trong tổ chức thực hiện các dự án hạ tầng và đầu tư công không chỉ gây thất thoát kinh tế mà còn dẫn đến sự hao mòn niềm tin của xã hội. Lãng phí nguồn lực xã hội làm chậm bước tiến của đất nước. Khi nhân dân nhìn thấy những dự án treo năm này qua năm khác, những tuyến đường dang dở gây bụi bặm và tắc nghẽn, họ không chỉ thất vọng về dự án đó mà còn nghi ngờ về tính quyết liệt của người đứng đầu.

Đặc biệt, tình trạng đầu tư dàn trải, chạy theo phong trào vẫn chưa được xóa bỏ triệt để. Thay vì dồn lực làm đến cùng các dự án trọng điểm có tính lan tỏa, nhiều nơi vẫn còn tình trạng “chia phần” ngân sách theo kiểu “mưa lồng, gió sương”, khiến nguồn vốn bị xé nhỏ, không tạo ra được cú hích thực sự. Đây chính là biểu hiện của việc thiếu một văn hóa công vụ liêm chính và chuyên nghiệp, lấy kết quả làm căn cứ đánh giá.

Dùng “quy trình đúng” phục vụ cho “mục đích sai”

Nếu sự trì trệ trong giải ngân là phần nổi của tảng băng trôi, thì sự lệch pha giữa chủ trương của Trung ương và cách thực thi tại địa phương, đơn vị chính là phần chìm đầy nguy hiểm. Tình trạng đề ra mục tiêu cao nhưng triển khai chậm, hiệu quả thấp vẫn là thực trạng nhức nhối chưa được giải quyết triệt để. Một trong những nguyên nhân sâu xa không còn là sợ sai đơn thuần, mà là sự chi phối của tư duy nhiệm kỳ – kiểu tư duy chỉ ưu tiên những việc có lợi trước mắt, dễ làm, dễ thấy thành tích mà bỏ qua những giá trị cốt lõi, dài hạn của quốc gia.

Thực tế cho thấy, nhiều dự án hạ tầng, nhiều chính sách cải cách thể chế bị “treo” không phải vì thiếu vốn, mà vì không mang lại “thặng dư chính trị” hay lợi ích kinh tế ngay lập tức cho người thực thi trong nhiệm kỳ của họ. Điều này dẫn đến một hệ lụy đau lòng: Những việc khó nhưng là nền tảng cho 10-20 năm sau thường bị đẩy lùi lại phía sau, nhường chỗ cho những dự án mang tính phong trào, bề nổi. “Làm nhiều” ở đây bị biến tướng thành làm những việc dễ lấy lòng, dễ báo cáo, thay vì “làm đến cùng” những nhiệm vụ gai góc nhưng thiết yếu.

Sự nguy hại lớn nhất trong tổ chức thực hiện là khi lợi ích cục bộ được đặt cao hơn lợi ích chung của đất nước. Đây chính là mảnh đất dung dưỡng cho tình trạng “nói không đi đôi với làm”. Khi Trung ương ban hành một nghị quyết về liên kết vùng, về bảo vệ môi trường hay chuyển đổi số…, về mặt văn bản, 100% các đơn vị đều hưởng ứng. Nhưng khi đi vào triển khai, cái tôi cục bộ bắt đầu trỗi dậy. Nơi này muốn đi đường vòng để giữ quỹ đất vàng, nơi kia muốn đặt trạm thu phí ở vị trí có lợi cho mình… Hay trong công tác xây dựng pháp luật, hiện tượng cài cắm lợi ích ngành trong các nghị định, thông tư vẫn là một vấn đề nhức nhối. Các chuyên gia pháp lý đã nhiều lần cảnh báo về tình trạng “quyền lợi thì thu về ngành mình, khó khăn thì đẩy cho người dân và doanh nghiệp”.

Đó chính là sự “lệch pha” nguy hại trong thực thi chính sách. Một chủ trương dù đúng đắn đến đâu nhưng khi đi qua lăng kính của lợi ích cục bộ sẽ bị biến dạng, khiến nguồn lực xã hội bị xé nhỏ, không thể tạo ra sức mạnh tổng lực. Đây là biểu hiện tinh vi nhất của tình trạng “nói hay làm dở”, nơi người thực thi dùng các “quy trình đúng” để phục vụ cho các “mục đích sai” hoặc mục đích hẹp hòi.

Tại Đại hội XIV của Đảng, thông điệp về văn hóa công vụ liêm chính, chuyên nghiệp được nhấn mạnh như một liều thuốc đối trị. Tuy nhiên, sự liêm chính không chỉ là không tham nhũng, mà còn là sự liêm chính trong tư duy thực thi. Một bộ máy thực sự “Làm nhiều – Làm đến cùng” phải là bộ máy thoát ly được sự chi phối của nhóm lợi ích.

Một số nhà quản lý và chuyên gia nhìn nhận rằng, có hiện tượng “chống đối ngầm” với các cải cách sâu rộng. Cải cách là đụng chạm đến quyền lợi, đến “nồi cơm” của những nhóm đặc quyền đặc lợi. Vì vậy, thay vì phản đối trực diện, họ chọn cách “thực hiện chậm”, “thực hiện sai lệch” hoặc viện dẫn khó khăn khách quan để trì hoãn. Đây là kiểu “trì trệ chủ động”, nguy hiểm hơn gấp nhiều lần so với sự trì trệ do năng lực yếu kém. Đơn cử như trong công tác tinh gọn bộ máy và chuyển đổi số, có nơi có biểu hiện tìm cách “giữ người, giữ ghế”, xây dựng các cơ sở dữ liệu biệt lập để duy trì đặc quyền quản lý thông tin. Khi dòng chảy thông tin bị chặn lại bởi các “lô cốt” cục bộ, mục tiêu xây dựng một Chính phủ số hiện đại, minh bạch sẽ chỉ nằm trên giấy.

Trong các bài phát biểu gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình. Điều đó nhận được sự ủng hộ cao của người dân, nhất là trước thực trạng dư luận bất bình khi một số quy định pháp luật được ban hành, lại bị lợi dụng để tạo ra “giấy phép con”, tạo ra đặc quyền cho một nhóm lợi ích. Đây chính là sự biến tướng nguy hiểm của việc “nói một đằng, làm một nẻo”.

Điều đó có thể thấy rõ trong các vụ án kinh tế lớn vừa qua, kịch bản: Lợi ích nhóm cấu kết với những người có thẩm quyền để tác động vào quá trình xây dựng chính sách, đưa các thông số kỹ thuật mang tính “đo ni đóng giày” cho một sản phẩm hoặc một nhà thầu cụ thể vào văn bản quy phạm. Khi chính sách đã được ban hành, việc thực thi trở nên “đúng quy trình” một cách hợp pháp, nhưng thực chất là một cuộc chia chác nguồn lực công.

Sự cài cắm còn tinh vi hơn trong lĩnh vực đất đai và quy hoạch. Những lỗ hổng trong việc xác định giá đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất được tạo ra một cách có chủ ý trong các quy định dưới luật. Việc này cho phép các nhóm lợi ích thâu tóm “đất vàng” với giá rẻ, gây thất thoát hàng chục nghìn tỷ đồng của Nhà nước. Khi bị chất vấn, người thực thi thường đổ lỗi cho sự chồng chéo của văn bản, nhưng thực chất đó là sự “trì trệ chủ động” để giữ lại các kẽ hở có lợi cho nhóm mình.

Khi chính sách bị cài cắm, khâu tổ chức thực hiện sẽ bị lệch lạc. Cán bộ thực thi thay vì tập trung vào kết quả và sự hài lòng của người dân, họ lại tập trung vào việc “soi” lỗi thủ tục để gây khó dễ, tạo ra một môi trường kinh doanh thiếu công bằng. Sự lãng phí nguồn lực ở đây không chỉ là tiền bạc, mà là sự lãng phí trí tuệ của cả một bộ máy khi phải dồn sức vào việc “lách luật” hoặc đối phó với những chính sách bất hợp lý.

Nhìn lại các đại án kinh tế những năm gần đây, có thể nhận thấy một công thức chung: Cài cắm lợi ích + Quy trình giả tạo + Thực thi hời hợt = Thất thoát nguồn lực quốc gia.

Để “Nói ít – Làm nhiều – Làm đến cùng” thực sự đi vào đời sống, khâu tổ chức thực hiện phải được giải phóng khỏi xiềng xích của lợi ích nhóm. Phải thực hiện minh bạch hóa toàn bộ quy trình thực thi bằng dữ liệu số, để không còn bóng tối cho những người nói hay làm dở ẩn nấp. Sự liêm chính trong thực thi chính là thước đo cao nhất của lòng yêu nước và bản lĩnh người đảng viên trước thách thức thời cuộc.

(Còn nữa)