“Đảng tin dân, dân tin Đảng” là hành trang lớn nhất của 40 năm đổi mới

Lượt xem:

Đọc bài viết

Văn kiện Đại hội XIV đã đúc rút 5 bài học kinh nghiệm từ 40 năm Đổi mới hàm chứa nội dung nghiên cứu sâu sắc. Đây không chỉ là sự tổng kết quá khứ mà còn là kim chỉ nam cho chặng đường phát triển tiếp theo của đất nước.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội khẳng định, các bài học này hàm chứa những phát triển mới về tư duy lý luận, cách tiếp cận mô hình phát triển và mối quan hệ giữa xây dựng Đảng với phát triển kinh tế, củng cố niềm tin xã hội trong bối cảnh đất nước bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

Năm bài học hàm chứa nội dung nghiên cứu sâu sắc

Phóng viên: Văn kiện Đại hội XIV đã đúc rút 5 bài học kinh nghiệm qua 40 năm Đổi mới. Theo ông, vì sao những bài học này được coi là nền tảng cho giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước?

Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Năm bài học kinh nghiệm được rút ra trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV có thể khái quát thành ba nhóm vấn đề lớn.

Thứ nhất là nhóm bài học về xây dựng Đảng, bao gồm hai nội dung cốt lõi: Một là, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Hai là, nghiên cứu và phát triển khoa học về Đảng cầm quyền, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đất nước trong bối cảnh mới.

Thứ hai là bài học về lấy dân làm gốc. Thực tiễn 40 năm Đổi mới, đặc biệt là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, cho thấy dù bối cảnh quốc tế và trong nước có rất nhiều biến động, thách thức lớn, nhưng chúng ta vẫn giữ được ổn định và đạt nhiều thành tựu quan trọng bởi vì nhân dân còn tin Đảng. Đây là giá trị lớn nhất, cần được trân trọng và gìn giữ.

Thứ ba là bài học về phát triển kinh tế, phải phù hợp với diễn biến địa chính trị quốc tế và khu vực, phù hợp với nội lực của đất nước, bảo đảm hài hòa giữa yếu tố trong nước và ngoài nước.

Đây là năm bài học lớn được Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tổng kết, trình Đại hội XIV. Các bài học được trình bày rất cô đọng, súc tích, nhưng hàm chứa nội dung nghiên cứu sâu sắc.

Thí dụ, bài học về bám sát thực tiễn, dự báo đúng tình hình để có phản ứng chính sách phù hợp. Thực tiễn nhiệm kỳ XIII cho thấy điều này rất rõ. Chỉ riêng trong năm 2025, Bộ Chính trị đã ban hành 8 nghị quyết quan trọng, từ Nghị quyết 57 đến Nghị quyết 79, bao trùm các lĩnh vực then chốt như khoa học-công nghệ, thể chế, kinh tế tư nhân, bảo đảm an ninh năng lượng, giáo dục, y tế và kinh tế nhà nước.

Các bài học tuy trình bày ngắn gọn nhưng chứa đựng những vấn đề đã được nghiên cứu rất lâu dài và vẫn cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn trong thời gian tới, bởi khi nội lực đất nước thay đổi, tương quan lực lượng thay đổi, bối cảnh quốc tế biến động mạnh thì cách ứng xử và hoạch định chính sách cũng phải phù hợp.

Những nghị quyết này không phải tự nhiên xuất hiện trong nhiệm kỳ XIII mà là sự kế thừa, phát triển các nghị quyết của Trung ương từ các khóa trước. Thí dụ như mô hình chính quyền hai cấp đã được đặt ra từ Đại hội XII và Nghị quyết Trung ương 18, nhưng phải đến cuối nhiệm kỳ XIII mới đủ điều kiện tổ chức thực hiện. Đó là cả một quá trình kéo dài nhiều năm, từ nghị quyết đến chương trình hành động, kế hoạch và tổ chức thực hiện.

Vì vậy, các bài học tuy trình bày ngắn gọn nhưng chứa đựng những vấn đề đã được nghiên cứu rất lâu dài và vẫn cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn trong thời gian tới, bởi khi nội lực đất nước thay đổi, tương quan lực lượng thay đổi, bối cảnh quốc tế biến động mạnh thì cách ứng xử và hoạch định chính sách cũng phải phù hợp.

Phóng viên: Trong 5 bài học kinh nghiệm, đâu là những điểm thể hiện rõ nhất sự phát triển mới về tư duy lý luận so với các kỳ đại hội trước, đặc biệt trong nhận thức về mô hình phát triển và con đường đi lên của Việt Nam?

Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Những điểm mới trong 5 bài học kinh nghiệm không vượt ra ngoài khuôn khổ Cương lĩnh 2011, mà là cách chúng ta triển khai Cương lĩnh 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 vào tình hình mới.

Thí dụ, từ Đại hội XI, chúng ta chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, toàn diện, trong bối cảnh thế giới vận hành chủ yếu theo xu hướng đa phương, thông qua các tổ chức khu vực và toàn cầu. Tuy nhiên, hiện nay xu thế thế giới đã chuyển mạnh từ đa phương sang song phương, trong đó lợi ích quốc gia – dân tộc được đặt lên hàng đầu. Điều đó buộc chúng ta phải điều chỉnh tư duy và cách tiếp cận.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam phải xem xét lại việc triển khai các quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia, vận dụng linh hoạt để thích ứng với biến động quốc tế, nhưng đồng thời vẫn kiên định mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trước đây, trong một thời gian dài, mô hình chủ nghĩa xã hội mà chúng ta hình dung chủ yếu là mô hình Liên Xô. Nhưng qua 40 năm Đổi mới, chúng ta đã xác định rõ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam hướng tới là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – một mô hình mang đặc trưng văn hóa, kinh tế, chính trị Việt Nam.

Điểm sáng tạo lớn nhất của Việt Nam chính là Đảng không ngừng tự đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội. Trước năm 1986, kinh tế thị trường thường được xem là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Nhưng từ Đổi mới, đặc biệt qua Cương lĩnh 1991, chúng ta xác định kinh tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại, cần được vận dụng sáng tạo vào điều kiện Việt Nam.

Tương tự như Mác từng nhìn nhận công nghiệp hóa và động cơ hơi nước không phải là đặc thù của chủ nghĩa tư bản mà là thành quả sáng tạo của loài người, thì kinh tế thị trường cũng vậy. Việt Nam chấp nhận vận hành nền kinh tế theo quy luật thị trường, nhưng phân phối theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hành trang lớn nhất của 40 năm Đổi mới là Đảng tin dân, dân tin Đảng

Phóng viên: Từ thực tiễn 40 năm Đổi mới, dự thảo văn kiện Đại hội XIV đặt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị ở vị trí như thế nào, và điều này có ý nghĩa gì trong việc củng cố niềm tin xã hội hiện nay?

Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Thực tế cho thấy, chưa có nhiệm kỳ nào số lượng cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng bị xử lý kỷ luật nhiều như nhiệm kỳ XIII. Điều này phản ánh đúng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: chúng ta không sợ kẻ thù bên ngoài, mà sợ nhất là cán bộ làm sai và cố tình làm sai.

Vấn đề đó thể hiện rõ, những sai lầm đó không xuất phát từ nhân dân, mà chủ yếu từ một bộ phận cán bộ lãnh đạo. Việc xử lý nghiêm minh cán bộ cấp cao trong nhiệm kỳ XIII đã củng cố niềm tin của xã hội, thể hiện quyết tâm tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ mà lịch sử và dân tộc đặt ra cho Đảng. Tuy nhiên, nếu không làm tốt, thành tích hôm nay có thể trở thành nguyên nhân làm suy giảm niềm tin.

Năm 2025 là năm thử thách lớn đối với niềm tin của nhân dân, thông qua việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy và chuyển mô hình chính quyền từ ba cấp sang hai cấp.

Dù mô hình mới mới vận hành trong thời gian ngắn, còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện, nhưng về cơ bản, nhân dân vẫn tin vào quyết tâm tự đổi mới của Đảng. Giữ vững niềm tin đó là nhiệm vụ rất nặng nề của Đại hội XIV. Nếu không nhìn thẳng vào sự thật, không nghiêm túc tự sửa mình, thì những khó khăn xã hội có thể phát sinh trong thời gian tới.

Bài học xuyên suốt là phải nắm chắc thực tiễn, kiên định lập trường, dự báo đúng tình hình và ứng xử linh hoạt. Chính nhờ đó, Việt Nam đã vượt qua cấm vận, bình thường hóa quan hệ quốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với cấu trúc ngày càng vững chắc. Đó chính là nền tảng để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Phóng viên: Bài học về kiên định mục tiêu chiến lược nhưng vận dụng sáng tạo được nhấn mạnh trong dự thảo văn kiện. Theo ông, đâu là những giới hạn cần nhận diện rõ để bảo đảm đổi mới tư duy mà không rơi vào giáo điều hoặc xa rời định hướng?

Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Vấn đề cốt lõi mà Đại hội XIV và cả nhiệm kỳ XIV cần trả lời là: nếu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước công nghiệp có thu nhập trung bình cao, thì chúng ta đang ở bước nào trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo Cương lĩnh 1991 và 2011.

Đến năm 2045, khi Việt Nam trở thành nước phát triển, có công nghệ cao, thì quá trình quá độ đã hoàn thành hay chưa? Khi đó, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sẽ được hiểu và thực hiện như thế nào? Những vấn đề này đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng cơ sở lý luận vững chắc, giống như vai trò kim chỉ nam của Đại hội VI trước đây.

Theo tôi, Đại hội XIV chưa thể giải quyết trọn vẹn những vấn đề này, mà cần tiếp tục nghiên cứu để đến Đại hội XV vào năm 2030 có thể xác định rõ hơn vị thế và bước đi tiếp theo.

Phóng viên: Các bài học này sẽ được chuyển hóa như thế nào thành mục tiêu và giải pháp cụ thể trong nhiệm kỳ Đại hội XIV?

Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: So với 8 kỳ Đại hội trong hòa bình, từ năm 1976 đến nay, lần này chúng ta có nhiều đổi mới. Điểm đổi mới lớn trong việc xây dựng văn kiện Đại hội XIV là tích hợp các báo cáo: báo cáo chính trị, báo cáo kinh tế-xã hội và báo cáo xây dựng Đảng thành một chỉnh thể thống nhất, đồng thời gắn chặt với chương trình hành động thực hiện nghị quyết.

Điều này tái khẳng định điều được ghi trong Điều lệ Đảng và Hiến pháp là Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Chúng ta xây dựng Chương trình hành động để trong 5 năm thực hiện nhiệm vụ chính trị đặt ra trong Báo cáo Chính trị.

Đây là việc chuyển từ “lời hứa chính trị” sang các chương trình, dự án, mục tiêu cụ thể để nhân dân có thể giám sát, đánh giá được sự thành công trong nhiệm kỳ. Qua đó, tăng cường giám sát của nhân dân, đảng viên đối với cơ quan lãnh đạo của Đảng, bảo đảm nghị quyết đi vào cuộc sống.

Phóng viên: Theo ông, hành trang lớn nhất mà 40 năm Đổi mới để lại cho đất nước là gì, và chúng ta cần vận dụng ra sao để Việt Nam tự tin bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”?

Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên: Hành trang lớn nhất của 40 năm Đổi mới là Đảng tin dân, dân tin Đảng.

Đảng tin dân khi xác định đúng mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, và tin rằng với đường lối đúng đắn, nhân dân sẽ đồng hành cùng Đảng. Thực tiễn lịch sử, từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến Đổi mới năm 1986, đều chứng minh điều đó.

Nhân dân tin Đảng, dù đời sống hiện nay còn nhiều khó khăn, bởi họ tin rằng Đảng sẽ tiếp tục đổi mới chính sách, sửa những bất cập trong tổ chức thực hiện. Người dân có thể chấp nhận khó khăn trong giai đoạn chuyển đổi, miễn là thấy rõ tinh thần cầu thị và trách nhiệm của Đảng.

Bài học xuyên suốt là phải nắm chắc thực tiễn, kiên định lập trường, dự báo đúng tình hình và ứng xử linh hoạt. Chính nhờ đó, Việt Nam đã vượt qua cấm vận, bình thường hóa quan hệ quốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với cấu trúc ngày càng vững chắc. Đó chính là nền tảng để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

Phóng viên: Xin cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên!

HỒNG VÂN-THIÊN LAM

Nguồn: https://lamdong.edu.vn/vi/sgddetail/?param=—dang-tin-dan-dan-tin-dang–la-hanh-trang-lon-nhat-cua-40-nam-doi-moi